Tầm soát ung thư vú & buồng trứng - xét nghiệm gen BRCA 1/2

Theo các nghiên cứu đã được công bố, thì sai hỏng hay khiếm khuyết trong gen chiếm khoảng 5-10% nguyên nhân gây ra ung thư vú. Trong đó, hai gen BRCA1 và BRCA 2 (Breast Cancer 1, 2) là hai gen có tỷ lệ cao nhất nếu mang các đột biến gây sai hỏng thì sẽ làm tăng cao nguy cơ mắc ung thư vú và ung thư buồng trứng. Hai gen này là nguyên nhân gây ra khoảng 20% các trường hợp ung thư di truyền trong gia đình. 
 

1.    Mối liên quan giữa gen BRCA1/2 và ung thư?

 
Theo thống kê, một phụ nữ bình thường có nguy cơ mắc ung thư vú là 12.5%. Trong trường hợp người phụ nữ có 1-2 mối quan hệ họ hàng gần gũi với một người mắc ung thư vú, thì nguy cơ tăng lên là 17-30%, tuỳ thuộc vào mức độ gần gũi và tiền sử mắc ung thư vú của gia đình. Nguy cơ ở phụ nữ có mang đột biến trên gen BRCA1 là 60-90% và ở ở phụ nữ có mang đột biến trên gen BRCA2 là 45-85%. Hơn nữa, phụ nữ mang các đột biến sai hỏng trên hai gen này có khả năng bị ung thư khi còn trẻ. 
Phụ nữ mang gen BRCA đột biến cũng có nguy cơ cao mắc ung thư buồng trứng. Đối với người bình thường, nguy cơ mắc ung thư buồng trứng là 2%. Tuy nhiên với những người có người thân hoặc họ hàng mắc ung thư buồng trứng thì nguy cơ là 4-5%, người mang gen BRCA1 chứa đột biến sai hỏng là 40-60% còn đối với gen BRCA2 thì nguy cơ là 10-30%.
Đối với những người có người mang các đột biến trên gen BRCA1 và BRCA2, có khả năng rất cao người thân của họ có mang các đột biến tương tự. Cụ thể:
-    Anh, chị em: anh, chị em có nguy cơ 50% cùng mang gen đột biến giống nhau.
-    Con cái: con cái có 50% nguy cơ thừa hưởng gen BRCA đột biến từ bố mẹ. Nguy cơ di truyền gene lỗi này cho con trai và con gái là giống nhau. Tuy nhiên những đứa con gái nhận gen lỗi này có nguy cơ phát triển thành ung thư trong suốt cuộc đời cao hơn so với con trai.
Ngoài ra, mối quan hệ xa hơn như cô, gì, chú, bác,… tuy có thể mang ít nguy cơ hơn nhưng không có nghĩa là không có khả năng những người này không mang gen BRCA đột biến. Ví dụ, nếu một người di truyền gen BRCA lỗi từ người mẹ, thì cô, dì, chú các và anh em họ bên ngoại đều có nguy cơ mang gen BRCA bị lỗi này. Gen lỗi không bỏ qua một thế hệ nào. Tuy nhiên, không phải tất cả các cá nhân có đột biến BRCA đều phát triển thành ung thư (nhất là với nam giới). Vì lý do này, nếu như ở thế hệ này không có người mắc ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng thì vẫn có thể xuất hiện người mắc ung thư ở các thế hệ tiếp theo. Đối với nam giới, nguy cơ phát triển thành ung thư là không cao nhưng họ vẫn có thể di truyền các gen lỗi này cho các thế hệ sau.
Vậy gen BRCA1/2 là gì? BRCA1 và BRCA2 là hai gen ức chế khối u, tức là các gen có tác dụng bảo vệ chống tại bênh ung thư bằng cách sửa chữa lại các tổn thương DNA xảy ra trong suốt quá trình phân chia tế bào. Bản thân hai gen này nếu bị đột biến thì sẽ không trực tiếp gây ra ung thư, tuy nhiên những người mang đột biến của gen này sẽ có nguy cơ mắc bệnh ung thư cao hơn so với người không mang các đột biến sai hỏng trong hai gen này, do lúc này khả năng sửa chữa các tổn thương và các sai hỏng khác của tế bào sẽ bị suy yếu. Mà chính các tổn thương ADN này chính là nguyên nhân khiến cho tế bào bình thường phát triển thành tế bào ung thư. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa hiểu rõ tại sao các đột biến trên hai gen BRCA1 va BRCA2 này lại làm tăng nguy cơ ung thư vú, ung thư buồng trứng và ung thư tuyến tiền liệt hơn các loại ung thư
khác.
 
 

 

2.    Lợi ích của sàng lọc đột biến trên hai gen BRCA1 và BRCA2

 

Đối với những người có người mang các đột biến trên gen BRCA1 và BRCA2, bác sĩ hoặc tư vấn viên sẽ xem phả hệ để xác định xem ai trong gia đình có nguy cơ cao mang các gen BRCA đột biến. Sau đó, những người có nguy cơ nên tiến hành các xét nghiệm kiểm tra để xác nhận chính xác xem mình có mang gen BRCA đột biến sai hỏng hay không, từ đó có thể dự đoán khả năng phát triển thành ung thư của bản thân. Nếu một người được lưu ý rằng họ có nguy cơ phát triển ung thư, họ có cơ hội lựa chọn các xét nghiệm dõi hay phẫu thuật ngăn ngừa. Họ cũng có thể đưa ra các quyết định hoặc cân nhắc về các vấn đề liên quan đến kế hoạch của gia đình và các lợi tức từ bảo hiểm. Hiểu biết về các nguy cơ giúp những người thân có những hành động kịp thời để giảm nguy cơ ung thư hay giúp họ bảo đảm rằng ung thư được phát hiện ở giai đoạn sớm, do đó có thể điều trị một cách hữu hiệu hơn. 
 

a.    Các phương pháp sàng lọc ung thư vú:

 
Các phương pháp sàng lọc nhằm phát hiện sớm bệnh ung thư vú đối với những người mang đột biến ở hai gen BRCA1 và 2 bao gồm:
-    Breast awareness: đây là phương pháp kiểm tra sự hình thành của khối u thông qua các bất thường được phát hiện quan sát và sờ bằng tay. Việc kiểm tra này nên thực hiện hàng tháng. Nếu có bất kì bất thường gì cần thông báo ngay cho bác sĩ.
-     Chụp X-quang: Phương pháp này có hiệu quả trong việc phát hiện sớm ung thư vú ở các phụ nữ từ 50 tuổi trở lên, với tỉ lệ phát hiện là 85%, so với phụ nữ trẻ (35-40 tuổi) là 44%. Việc kiểm tra này nên được thực hiện hàng năm. 
-    Chụp cộng hưởng từ: Phương pháp này có độ nhạy cao hơn chụp X-quang đối với phụ nữ dưới 50 tuổi, hiệu quả phát hiện ung thư vú là 77%, tuy nhiên tỷ lệ dương tính giả của phương pháp này cũng cao hơn chụp X-quang. Nếu kết hợp hai phương pháp này thì khả năng phát hiện được cải thiện lên đến 94% đối với những người mang đột biến trên gen BRCA 1 và BRCA 2. Phụ nữ trong độ tuổi từ 30-50 mang đột biến trong gen BRCA 1,2 nên chụp cộng hưởng từ 1 lần/năm. 
Nếu trong quá trình sang lọc phát hiện bất thường, cần thực hiện các xét nghiệm tiếp theo để xác đinh rõ các bất thường đó là gì. Các xét nghiệm tiếp theo này có thể là chụp X-quang từ nhiều góc độ, siêu âm hoặc xét nghiệm sinh thiết.
Đối với ung thư buồng trứng, hiện nay vẫn chưa có phương pháp hữu hiệu sử dụng trong sàng lọc cũng như phát hiện ở giai đoạn sớm. 
 

b.    Phẫu thuật giảm nguy cơ ở những người có nguy cơ cao phát triển ung thư vú và ung thư buồng trứng. 

 
Phụ nữ mang đột biến sai hỏng trong gen BRCA1 và BRCA2 có thể chọn phương pháp phẫu thuật để giảm nguy cơ ung thư, đối với cả hai loại ung thư vú và ung thư buồng trứng. Đối với ung thư vú, mô vú sẽ được phẫu thuật loại bỏ, điều này giúp làm giảm nguy cơ mắc ung thư vú xuống còn dưới 5%. Tương tự đối với ung thư buồng trứng, phẫu thuật giảm nguy cơ bao gồm phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng và ống dẫn trứng (ống dẫn trứng cũng được loại bỏ vì mô của bộ phần này cũng tương tự như mô của buồng trứng), giảm nguy cơ phát triển thành ung thư buồng trứng ở những người có nguy cơ cao xuống còn dưới 5%. Thường thì các mô sẽ được loại bỏ nhiều nhất có thể, nhưng sẽ có khả năng còn một lượng mô còn sót lại. Điều này giải thích tại sao phẫu thuật này không giảm 100% nguy cơ mắc ung thư.
 

3.    Nam giới và gen BRCA

 
Vai trò của các gen BRCA là giúp cơ thể sửa chữa các lỗi xảy ra ở DNA trong quá trình phân chia tế bào và do đó giúp ngăn ngừa ung thư. Nếu người nào đó mang bản sao lỗi của một trong hai gen này thì có nghĩa là người đó có quá trình sửa chữa các sai sót xuất hiện khi phân bào kém hiệu quả và do đó làm tăng nguy cơ phát triển thành ung thư trong suốt cuộc đời. Vì những lý do mà chúng ta vẫn chưa có hiểu biết đầy đủ, các sai hỏng ở gen BRCA1, 2 chủ yếu làm tăng nguy cơ ung thư vú và ung thư buồng trứng. Vì vậy, nhiều người hiểu nhầm rằng nam giới không mang gen BRCA hoặc việc mang các gen BRCA lỗi không có liên quan đến những người đàn ông trong gia đình. Điều này không đúng. Nam giới cũng có các gene BRCA, họ cũng có thể mang các gen BRCA mang đột biến sai hỏng, do đó họ cũng có nguy cơ tăng nhẹ khả năng phát triển các loại ung thư và có thể truyền lại gen lỗi này cho cả các con trai và con gái. 
Nam giới mang gen BRCA đột biến có nguy cơ ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến tang nhẹ khi trưởng thành, và hầu như chủ yếu với những đàn ông mang đột biến ở gen BRCA2. Một người đàn ông mang đột biến gen BRCA2 có nguy cơ 5-10% bị ung thư và 20-25% nguy cơ bị ung thư tiền liệt tuyến trong suốt cuộc đời. Trong khi đó, tỷ lệ này chỉ là 0,1-1% ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến đối với gen BRCA1. Họ cũng hoàn toàn có thể có làm các xét nghiệm kiểm tra di truyền để có các thông tin về di truyền và theo dõi ung thư. Những đàn ông mang các đột biến trên gen BRCA được khuyên nên tiến hành sàng lọc tiền liệt tuyến sử dụng các xét nghiệm máu PSA hằng năm bắt đầu từ độ tuổi 40 đến 69.
Ở Anh, ung thư tiền liệt tuyến là ung thư phổ biến nhất ở nam giới, với tỷ lệ cứ 9 người đàn ông thì có 1 người bị ảnh hưởng bởi ung thư tiền liệt tuyến trong suốt cuộc đời và thường sau 70 tuổi, trong đó có 1-2% ung thư tiền liệt tuyến được chẩn đoán gây ra bởi đột biến BRCA1và BRCA2. 
Ngày đăng: 04:40 - 16/04/2017 - Lượt xem: 1.100