Array
(
[0] => stdClass Object
(
[id] => 451
[id_crawler] =>
[category_product] => NULL
[thumbnail] => tin-chuyen-nganh/7.2020/xet-nghiem-hpv-duong-tinh-la-gi.jpg
[album] =>
[url_video] =>
[is_status] => 1
[is_featured] => 0
[is_form] => 0
[displayed_time] => 2020-07-30
[program] => 0
[number] => 1
[viewed] => 0
[type] =>
[type_career] =>
[level] =>
[address] =>
[address_career] =>
[expiration_time] => 0000-00-00
[created_time] => 2020-07-30 14:53:26
[updated_time] => 2020-11-10 16:23:16
[files] =>
[salary] =>
[time] =>
[created_by] =>
[is_table_content] =>
[language_code] => vi
[slug] => xet-nghiem-hpv-duong-tinh-la-gi
[title] => Xét nghiệm HPV dương tính là gì?
[description] => Xét nghiệm HPV là một trong những xét nghiệm quan trọng giúp tầm soát ung thư cổ tử cung cũng như phát hiện những bệnh lý do vi rút HPV gây ra. Có nhiều câu hỏi đặt ra xét nghiệm hpv dương tính là gì? Hãy cùng GENTIS tìm hiểu nhé!
[content] => HPV có tác động thế nào đến sức khỏe
Để tìm hiểu xét nghiệm HPV dương tính là gì đầu tiên bạn cần tìm hiểu HPV có tác động như thế nào đến sức khỏe. Nhiễm Human Papiloma virus ở người (HPV) là nguyên nhân phổ biến nhất gây ung thư cổ tử cung.
- Loại HPV nguy cơ thấp: Có thể gây ra mụn cóc, sùi mào gà hoặc tổn thương tế bào niêm mạc cổ tử cung ở mức độ nhẹ. Những loại HPV nguy cơ thấp bao gồm: HPV 6, 11, 40, 42, 43, 44, 53, 54, 61, 72, 73 và 81. Các loại HPV 6 và 11 có liên quan đến khoảng 90% trường hợp mụn cóc sinh dục và sùi mào gà.

- Loại HPV nguy cơ cao gây ra ung thư cổ tử cung: Làm tổn thương niêm mạc cổ tử cung từ mức độ thấp đến cao và tiến triển đến tiền ung thư. Nếu không được phát hiện sớm sẽ gây nên các loại ung thư khác nhau tùy bộ phận ký sinh như: ung thư cổ tử cung, ung thư vòm họng, ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật, hay hậu môn,....... Những loại HPV nguy cơ cao bao gồm: HPV 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59 và 68. Trong đó, HPV 16 và 18 là nguy hiểm nhất, vì chúng gây ra khoảng 70% trường hợp ung thư cổ tử cung.
Một số type HPV mà xét nghiệm HPV của GENTIS có thể phát hiện:
- Xét nghiệm Gen - HPV gói 17 types:
Các chủng (type) HPV được phát hiện :
Các chủng (type) HPV được phát hiện :
Phát hiện sự có mặt của 40 types HPV trong đó:
Phát hiện 22 types với:
PGS Vũ Bá Quyết - Nguyên Giám đốc Bệnh viện Phụ sản TW nói về tầm quan trọng của xét nghiệm HPV
Khi bạn xét nghiệm cho ra kết quả mang dương tính với HPV thì đồng nghĩa là bạn đã bị nhiễm một hoặc nhiều loại HPV và có nguy cơ dẫn đến ung thư cổ tử cung.
Trong thực tế, 4 trong số 5 phụ nữ có thể nhiễm HPV tại một thời điểm nào đó trong đời, ngay cả khi cô ấy chỉ có một bạn tình. Miễn là đã có quan hệ tình dục thì bạn có nguy cơ cao nhiễm virus này. Trong phần lớn các trường hợp, sau lây nhiễm bệnh có thể tự khỏi và không gây vấn đề gì nghiêm trọng về sức khỏe.
Tuy nhiên khi bạn có kết quả dương tính với HPV, điều này vẫn không có nghĩa là bạn bị ung thư cổ tử cung, nhưng chắc chắn rằng nguy cơ mắc bệnh của bạn sẽ cao hơn người bình thường. Nếu bị nhiễm HPV, bác sĩ sẽ tư vấn cho bạn các bước tiếp theo: có thể bao gồm giám sát theo dõi, kiểm tra thêm, hoặc điều trị các tế bào bất thường hoặc tiền ung thư.
.jpg)
- Xét nghiệm GenHPV có thể phát hiện tới 40 types HPV
- Chỉ 2 ngày có kết quả
- Đặc biệt khách hàng có thể tự thu mẫu tại nhà dễ dàng với bộ thu mẫu Evalyn (Hà Lan)
GENTIS - Đơn vị xét nghiệm HPV nhanh chóng, chính xác:
GENTIS HCM
8/24 Nguyễn Đình Khơi, Phường 4 Quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh
1800 2010 - 0888.40.2010
GENTIS HÀ NỘI
Tầng 2, Tòa nhà HCMCC, 249A Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
1800 2010 - 0988.00.2010
[content_more] => [meta_title] => Kết quả xét nghiệm HPV dương tính là gì? Có phải bị nhiễm HPV không? [meta_description] => Có nhiều câu hỏi đặt ra xét nghiệm hpv dương tính là gì? Vì xét nghiệm HPV là một trong những xét nghiệm quan trọng giúp tầm soát ung thư cổ tử cung. [meta_keyword] => xét nghiệm hpv,hpv dương tính,dương tính hpv [thumbnail_alt] => [post_id] => 451 [category_id] => 15 ) [1] => stdClass Object ( [id] => 450 [id_crawler] => [category_product] => NULL [thumbnail] => tin-chuyen-nganh/7.2020/dia-chi-xet-nghiem-adn-vung-tau.jpg [album] => [url_video] => [is_status] => 1 [is_featured] => 0 [is_form] => 1 [displayed_time] => 2020-07-30 [program] => 0 [number] => 1 [viewed] => 0 [type] => [type_career] => [level] => [address] => [address_career] => [expiration_time] => 0000-00-00 [created_time] => 2020-07-30 13:45:05 [updated_time] => 2022-03-25 16:03:47 [files] => [salary] => [time] => [created_by] => [is_table_content] => 0 [language_code] => vi [slug] => dia-chi-xet-nghiem-adn-vung-tau-chinh-xac-va-uy-tin [title] => Địa chỉ xét nghiệm ADN Vũng Tàu chính xác và uy tín [description] => Xét nghiệm ADN có thể được thực hiện với mục đích cá nhân (làm thẻ ADN, xác định huyết thống,…) hoặc phục vụ cho thủ tục hành chính, dân sự và hình sự. Nếu đang tìm kiếm địa chỉ xét nghiệm ADN tại Vũng Tàu thì GENTIS chính là địa chỉ uy tín và chính xác nhất hiện nay. [content] =>GENTIS đơn vị tiên phong về xét nghiệm gen đã có điểm thu mẫu tại Vũng Tàu. Bạn có thể dễ dàng đến đây thực hiện xét nghiệm ADN huyết thống để có kết quả chính xác tới 100%, kết quả được các cơ quan nhà nước, các đại sứ quán công nhận.
Tham khảo ngay bảng giá xét nghiệm ADN mới nhất tại GENTIS.

Nếu quý khách gặp khó khăn trong việc đến tại địa chỉ xét nghiệm ADN tại Vũng Tàu thì có thể lựa chọn phương pháp tự lấy mẫu tại nhà (không áp dụng cho trường hợp xét nghiệm ADN hànhchính). Xét nghiệm ADN chỉ có thể được tiến hành khi được cung cấp những mẫu bệnh phẩm đạt điều kiện theo quy định.
Mẫu máu là bệnh phẩm được sử dụng phổ biến trong xét nghiệm ADN vì cho kết quả có độ ổn định cao, ADN không bị biến tính và thời gian trả kết quả nhanh chóng.
Thu thập mẫu máu để xét nghiệm ADN khác với các xét nghiệm khác. Để lấy mẫu máu, nhân viên y tế sẽ vô trùng da, sau đó dùng bút bấm lấy mẫu ở đầu ngón tay hoặc gót chân đối với trẻ dưới 1 tuổi. Sau khi máu chảy ra, sử dụng giấy nhằm thấm máu, gấp lại và cho vào phong bì để đem xét nghiệm.
Mẫu bệnh phẩm thử này được khá nhiều người lựa chọn vì không gây đau và quy trình thu thập mẫu tương đối đơn giản. Tuy nhiên, cần vệ sinh dụng cụ cắt tỉa, móng tay và móng chân trước khi cắt.
Để xét nghiệm, cần ít nhất 40mg móng tay và móng chân. Sau khi thu thập mẫu bệnh phẩm, nhân viên y tế sẽ cho vào phong bì có chữ ký của người xét nghiệm trước khi gửi về phòng phân tích.

Mẫu tóc để thực hiện xét nghiệm ADN phải kèm chân tóc mới có giá trị làm xét nghiệm ADN. Chuyên gia sẽ lấy khoảng 5-7 sợi tóc có chân tócđể tiến hành xét nghiệm. Trường hợp mẫu tóc lấy được bị đứt và không có chân tóc sẽ không thể sử dụng làm bệnh phẩm xét nghiệm ADN. Tuy nhiên đối với trẻ sơ sinh hoặc trẻ có tóc quá mảnh thì không nên thu mẫu tóc vì khó nhổ được tóc có chân tóc.
Niêm mạc miệng là phần niêm mạc có màu trắng và chủ yếu tập trung trong khoang miệng ở phần 2 bên má. Người xét nghiệm cần vệ sinh sạch sẽ khoang miệng trước khi lấy mẫu bệnh phẩm. Sau đó, chuyên viên y tế sẽ sử dụng dụng cụ lấy mẫu chuyên dụng và chà sát vào 2 bên má. Mẫu thử thu được trên dụng cụ sẽ được chờ đến khi khô và cho vào phong bì bảo quản niêm phong.
Trường hợp này chỉ áp dụng cho trẻ sơ sinh. Khi đó, phụ huynh chỉ cần lấy 1 đoạn nhỏ cuống rốn: cắt khoảng 1cm cuống rốn khô, sạch, đã rụng và đựng trong phong bì để gửi đến trung tâm xét nghiệm.
Có nhiều trường hợp người xét nghiệm muốn giữ bí mật và không để người khác biết thì có thể sử dụng các mẫu vật phẩm đặc biệt như bao cao su mới sử dụng, bàn chải đánh răng, răng sữa, kẹo cao su, tàn thuốc lá, dao cạo râu,...
GENTIS là địa chỉ xét nghiệm ADN ở Vũng Tàu có độ uy tín và chính xác hàng đầu. Quý khách còn băn khoăn về mức giá và cách thức thực hiện vui lòng liên hệ ngay đến hotline để được tư vấn chi tiết.
HPV là một loại virus gây u nhú ở người và là nguyên nhân chính dẫn đến ung thư cổ tử cung - căn bệnh đã cướp đi sinh mạng của hàng ngàn phụ nữ trên toàn thế giới.
HPV lây truyền chủ yếu qua đường tình dục, ngoài ra, bạn có thể nhiễm phải chúng qua tiếp xúc da, tiếp xúc tay miệng với bộ phận sinh dục, tiếp xúc với đồ vật của người nhiễm HPV hoặc mẹ lây truyền sang con…Vậy virus HPV có tự hết không?
Dấu hiệu nhiễm HPV thường không rõ rệt vì thế nhiều chị em không thể biết mình nhiễm nếu không thực hiện xét nghiệm. 70% HPV mới nhiễm tự hết trong vòng 1 năm. 91% số người nhiễm tự hết trong vòng hai năm. Thời gian trung bình cho nhiễm HPV mới là 8 tháng, chỉ một phần nhỏ là tiến triển thành ung thư cổ tử cung.

Hiện nay chưa có biện pháp để điều trị HPV. Bác sĩ có thể loại bỏ các tổn thương đường sinh sản có thể quan sát bằng mắt thường và mụn sinh dục gây nên bởi HPV, nhưng họ không thể tiêu diệt được virus.
Không giống như các bệnh lây truyền qua đường tình dục có căn nguyên vi khuẩn như lậu, Chlamydia hay giang mai, không có thuốc kháng sinh để chữa HPV. Chúng ta có thể tăng cường hệ thống miễn dịch để có thể hạn chế các thương tổn và một số loại tiền ung thư ở hậu môn, âm đạo.
Nhưng không phải lúc nào cũng có thể phục hồi được các tổn thương.
Thời gian trung bình từ khi nhiễm HPV nguy cơ thấp (nguyên nhân gây mụn cóc) cho tới khi biến mất là 6-8 tháng. Do đó, phần lớn người nhiễm HPV sẽ không còn mụn cóc ngay cả khi không điều trị, một số trường hợp cần một lần điều trị, số khác vẫn có tổn thương trong vòng 24 tháng điều trị.

Sau khi đã tìm hiểu virus HPV có tự hết không từ đó chúng ta cần biết các biện pháp giúp ngăn ngừa lây nhiễm virus HPV:
.jpg)
Với 10 năm kinh nghiệm, GENTIS là nơi quy tụ đội ngũ các nhà khoa học, các chuyên gia tư vấn giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực di truyền, cùng đội ngũ kỹ thuật viên, tư vấn viên chuyên nghiệp…
Địa chỉ GENTIS:
GENTIS HCM
GENTIS HÀ NỘI
|
Xét nghiệm Thrombophilia di truyền Xét nghiệm Thrombophilia di truyền nhằm giúp bác sĩ xác định nguy cơ tăng đông do đột biến các yếu tố di truyền. Xét nghiệm Thrombophilia tại GENTIS phát hiện 6 đột biến (đồng hợp tử hoặc dị hợp tử) xảy ra trên 4 gen thường gặp bao gồm:
|
Đột biến G1691A trên gen mã hóa yếu tố V (còn gọi là đột biến Factor V Leiden) là đột biến hay gặp và quan trọng nhất liên quan đến của huyết khối tĩnh mạch nguyên phát và tái phát trong thai kỳ. Đột biến này khiến cho quá trình yếu tố V bị bất hoạt bởi protein C trong quá trình đông máu xảy ra chậm hơn, khiến cho quá trình đông máu diễn ra liên tục trong thời gian dài hơn.
Dị hợp tử của đột biến này khiến cho nguy cơ đông máu tăng khoảng 5-10 lần, đối với trường hợp đồng hợp tử thì tăng cao 100 lần. Gần đây, một đột biến khác là A4070G trên gen F5 (còn gọi là đột biến Factor V R2) cũng được cho rằng có liên quan đến việc tăng nguy cơ đông máu.
Khi gen prothrombin bị biến đổi, hàm lượng prothrombin - protein liên quan đến quá trình hình thành cục máu đông tăng lên dẫn đến tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch (VTE). Đột biến này chiếm 17% đối tượng phụ nữ mang thai có liên quan đến VTE. [3]
Đột biến gen MTHFR sẽ dẫn đến hiện tượng ứ đọng và tăng homocysteine, nguyên nhân gây ra cục máu đông và làm cứng thành mạch.


Bổ sung folate, vitamin B6, vitamin B12 giúp giảm nồng độ homocysteine trong máu qua đó giảm thiểu tỷ lệ mắc VTE [1]. Ngoài ra, bệnh nhân bị đột biến dị hợp tử hoặc đồng hợp tử MTHFR, acid folic gặp khó khăn khi chuyển hoá thành dạng folate – dạng hoạt động trong cơ thể, dẫn đến việc dư thừa acid folic nhưng lại thiếu hụt folate. Do đó, bệnh nhân mang đột biến MTHFR cần được tư vấn bổ sung dinh dưỡng hợp lý.
Mang thai là tình trạng tăng đông máu với hoạt động tiêu sợi huyết giảm dần, nguyên nhân chủ yếu là do sự gia tăng chất ức chế hoạt hóa plasminogen loại 1 (PAI – 1).
PAI-1 ngăn chặn sự xâm lấn của phôi thai vào nội mạc tử cung. Các nghiên cứu ghi nhận PAI – 1 trong huyết tương ở nhóm sảy thai liên tiếp cao hơn so với phụ nữ mang thai khỏe mạnh. [5]
Một phân tích tổng hợp gần đây của Li et al. (2015) bao gồm 22 nghiên cứu với 4306 trường hợp và 3076 ca đối chứng cho thấy rằng đa hình PAI-1 4G/5G liên quan đến tăng nguy cơ sảy thai liên tiếp (p = 0,0003), đặc biệt là trong phân nhóm da trắng (p <0,001). [6]
Khosravi và cộng sự (2014) tiếp tục phát hiện ra rằng tỷ lệ PAI-1 -675 4G/5G cao ở bệnh nhân sảy thai liên tiếp cũng như ở bệnh nhân thất bại chuyển phôi (p <0,001). [7]
|
Ghi nhận tại Trung tâm xét nghiệm di truyền GENTIS trên 1.121 bệnh nhân có tiền sử sảy thai, thai lưu liên tiếp có:
|

Tài liệu tham khảo:
| Thrombophilia (hay hội chứng tăng đông) được định nghĩa là nhóm các rối loạn di truyền hoặc mắc phải, điển hình bởi xu hướng hình thành cục máu đông cao hơn bình thường. |
Theo Hiệp hội sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG 2016), Thrombophilia gồm:[1]
Thrombophilia di truyền: Do một số đột biến trong các gen mã hoá cho các protein liên quan đến quá trình đông máu như yếu tố V Leiden, V R2, Prothrombin (yếu tố II) …
Thrombophilia mắc phải:
- Hội chứng Antiphospholipid (APS) Lupus anticoagulant, anticardiolipin, Beta-2 glycoprotein-1
- Thiếu hụt protein S và protein C
Thrombophilia phối hợp: Bao gồm do di truyền và mắc phải. Ví dụ: Đột biến gen Methylene tetrahydrofolate reductase (MTHFR) và sự thiếu hụt của Folate tự nhiên (vitamin B9), vitamin B12.

[2] Mang thai vốn là một quá trình tăng đông sinh lý, cộng hưởng với hội chứng Thrombophilia càng làm gia tăng nguy cơ huyết khối có thể dẫn đến nhiều biến chứng thai kỳ không mong muốn như:

Nghiên cứu được thực hiện trên quần thể phụ nữ Syria (2017) với mẫu nghiên cứu là 100 phụ nữ có tiền sử sảy thai, thai lưu liên tiếp cho thấy và nhóm chứng là 106 phụ nữ khỏe mạnh cho thấy: Đồng hợp tử C677T và/hoặc A1289C của yếu tố MTHFR là 2 yếu tố nguy cơ cao dẫn tới sảy thai, thai lưu liên tiếp. [3]
Một phân tích tổng hợp gần đây của Li et al. (2015) bao gồm 22 nghiên cứu với 4.306 trường hợp và 3.076 ca đối chứng cho thấy rằng đa hình PAI-1 4G/5G liên quan đến tăng nguy cơ sảy thai liên tiếp (p = 0,0003), đặc biệt là trong quẩn thể người da trắng (p <0,001). [4]
Khosravi và cộng sự (2014) tiếp tục phát hiện ra rằng tỷ lệ đột biến PAI-1-675 4G/5G tăng cao ở bệnh nhân sảy thai liên tiếp cũng như ở bệnh nhân thất bại chuyển phôi (p <0,001). [5]

Một nghiên cứu thống kê được thực hiện vào năm 2017 cho thấy: Tỷ lệ bệnh nhân mang đột biến gen gây nên hội chứng Thrombophilia di truyền bị mất thai ở tam cá nguyệt thứ 2 là 21%, trong khi tỷ lệ này gặp ở nhóm chứng (thai kì khỏe mạnh) chỉ chiếm 3,9% (OR = 5,5). Trong đó đột biến Yếu tố V Leiden, đồng hợp tử MTHFR C677T có liên quan chủ yếu nhất.
Tỷ lệ mắc bệnh huyết khối ở phụ nữ bị mất ba tháng cuối (> 20 tuần) dao động từ 20 đến 50%.
Singla 2017, “Recurrent Pregnancy Loss and Inherited Thrombophilia” (2017),
Nghiên cứu thực hiện trên 96 phụ nữ vô sinh có tiền sử sảy thai liên tiếp so sánh với nhóm chứng gồm 95 phụ nữ khỏe mạnh có khả năng sinh sản tự nhiên. Kết quả cho thấy:
- Có ít nhất một yếu tố Thrombohilia được gọi là yếu tố góp phần làm giảm tỷ lệ sinh thành công của bệnh nhân sau khi làm IVF.
- Đột biến của yếu tố V Leiden và dạng đột biến đồng hợp tử của đột biến MTHFR là 2 yếu tố rủi ro nhất.
Leila Safdarian (2014), “Recurrent IVF failure and hereditary thrombophilia”
Xét nghiệm Thrombophilia di truyền nhằm giúp bác sĩ xác định nguy cơ tăng đông do đột biến các yếu tố di truyền.
Xét nghiệm Thrombophilia tại GENTIS phát hiện 6 đột biến (đồng hợp tử hoặc dị hợp tử) xảy ra trên 4 gen thường gặp bao gồm:
Thời gian trả kết quả: 5 ngày.
Mẫu xét nghiệm: Mẫu máu toàn phần trong ống chống đông EDTA.
Công nghệ: Giải trình tự gen trên hệ thống tự động ABI3130xl (ABI, Hoa Kỳ).
- Phụ nữ trước khi mang thai có tiền sử sảy thai liên tiếp, tiền sản giật, lưu thai, thai kém phát triển.
- Phụ nữ mang thai có dấu hiệu bào thai kém phát triển.

Tài liệu tham khảo:
Thrombophilia (hay hội chứng tăng đông) được định nghĩa là nhóm các rối loạn di truyền hoặc mắc phải, điển hình bởi xu hướng hình thành cục máu đông trong các tĩnh mạch hoặc động mạch cao hơn bình thường.

Thay đổi sinh lý trong thai kỳ dẫn đến tình trạng tăng khả năng đông máu, giảm hoạt động chống đông máu và giảm tiêu sợi huyết. Sự thay đổi này được coi là “mạng lưới an toàn” cho cả mẹ và thai nhi nhằm duy trì chức năng nhau thai, đồng thời giảm thiểu đến mức tối đa những biến chứng chảy máu trong thai kỳ, trong chuyển dạ và sau sinh.
Mang thai vốn là một quá trình tăng đông sinh lý, cộng hưởng với hội chứng Thrombophilia càng làm gia tăng nguy cơ huyết khối có thể dẫn đến nhiều biến chứng thai kỳ không mong muốn như:

Nghiên cứu được thực hiện trên quần thể phụ nữ Syria (2017) với mẫu nghiên cứu là 100 phụ nữ có tiền sử sảy thai, thai lưu liên tiếp cho thấy và nhóm chứng là 106 phụ nữ khỏe mạnh cho thấy: Đồng hợp tử C677T và/hoặc A1289C của yếu tố MTHFR là 2 yếu tố nguy cơ cao dẫn tới sảy thai, thai lưu liên tiếp [2]
Một phân tích tổng hợp gần đây của Li et al. (2015) bao gồm 22 nghiên cứu với 4.306 trường hợp và 3.076 ca đối chứng cho thấy rằng đa hình PAI-1 4G/5G liên quan đến tăng nguy cơ sảy thai liên tiếp (p = 0,0003), đặc biệt là trong quần thể người da trắng (p <0,001) [3].
Khosravi và cộng sự (2014) tiếp tục phát hiện ra rằng tỷ lệ đột biến PAI-1-675 4G/5G tăng cao ở bệnh nhân sảy thai liên tiếp cũng như ở bệnh nhân thất bại chuyển phôi (p <0,001) [4].

Xét nghiệm Thrombophilia di truyền nhằm giúp bác sĩ xác định nguy cơ tăng đông do đột biến các yếu tố di truyền.
Xét nghiệm Thrombophilia tại GENTIS phát hiện 6 đột biến (đồng hợp tử hoặc dị hợp tử) xảy ra trên 4 gen thường gặp bao gồm:
|
- Gen yếu tố V: G1691A (FV Leiden) và A4070G (FV R2) - Gen yếu tố II: G20210A - Gen MTHFR: C677T và A1298C - Gen mã hoá Plasminogen activator inhibitor - 1 (PAI-1) |
- Phụ nữ trước khi mang thai có tiền sử sảy thai liên tiếp, tiền sản giật, lưu thai, thai kém phát triển.
- Phụ nữ mang thai có dấu hiệu bào thai kém phát triển.
Thời gian trả kết quả: 5 ngày
Mẫu xét nghiệm: Mẫu máu toàn phần trong ống chống đông EDTA
Công nghệ: Giải trình tự gen trên hệ thống tự động ABI3130xl (ABI, Hoa Kỳ)
Tài liệu tham khảo:

GS. TS Nguyễn Đình Tảo - Chủ tịch Hỗ trợ sinh sản Hà Nội, Nguyên GĐ TT đào tạo, nghiên cứu Công nghệ Phôi, Học viện Quân y
Một trong những đề tài khoa học mà GS Nguyễn Đình Tảo tâm đắc nhất trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình chính là đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu quy trình chẩn đoán một số bệnh di truyền trước chuyển phôi để sàng lọc phôi thụ tinh trong ống nghiệm” (2013 - 2015). Theo chia sẻ của ông, trước năm 2005 kỹ thuật chẩn đoán di truyền tiền làm tổ ở Việt Nam nghe còn rất xa xôi. Các cặp vợ chồng chỉ có thể chẩn đoán trước sinh khi thai đã được 16 tuần, phải chọc ối để chẩn đoán, nếu không may phôi bị dị tật thì phải đình chỉ thai, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe bà mẹ. Từ ngày đó, ông đã có một ước mơ là nghiên cứu quy trình kỹ thuật này đưa vào áp dụng tại Việt Nam.
Đã có dịp tới thăm bệnh viện huyết học truyền máu Trung ương, ông không cầm được nước mắt khi thấy những bệnh nhân mắc bệnh di truyền Thalassemia (bệnh di truyền gen lặn do đột biến gen mã hóa chuỗi globin nằm trên nhiễm sắc thể số 11 và 16) và bệnh Teo cơ tủy (Spinal muscular atrophy-SMA, bệnh thần kinh cơ di truyền lặn do đột biến mất đoạn gen nằm trên nhiễm sắc thể số 5), những bệnh nhân này suốt đời phải gắn liền với bệnh viện.

GS Nguyễn Đình Tảo đã gặp nhiều gia đình sinh ra con có bệnh
Và hình ảnh các em bé cùng các cha mẹ bồng bế nhau trong bệnh viện càng thôi thúc trách nhiệm của một người thầy thuốc, một nhà khoa học trong ông, đó là phải làm gì để bớt gánh nặng đó cho gia đình và cho xã hội.
Và rồi ông bắt tay vào thực hiện đề tài: “Nghiên cứu quy trình chẩn đoán một số bệnh di truyền trước chuyển phôi để sàng lọc phôi thụ tinh trong ống nghiệm”.
Chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi (PGD) là kỹ thuật sàng lọc di truyền, lựa chọn được những phôi khỏe mạnh trước khi cấy chuyển phôi vào buồng tử cung. Với khả năng đó, kỹ thuật chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi làm giảm nỗi lo sinh ra những em bé dị tật bẩm sinh bằng cách loại bỏ những phôi bất thường từ giai đoạn phôi 5 ngày tuổi, chuyển các phôi không mang bệnh vào tử cung người mẹ để sinh ra em bé bình thường. Đây là một phương pháp dự phòng tiên tiến, hiệu quả cho các bệnh di truyền trong đó có bệnh tan máu bẩm sinh Thalassemia, bệnh Teo cơ tủy. Khó khăn nhất của phương pháp này là phát hiện được đột biến chỉ từ một tế bào phôi.
Sau khi tiến hành thực hiện công trình, ông và các đồng nghiệp đã xây dựng các quy trình chẩn đoán bệnh cho các gia đình có nguy cơ sinh con bị bệnh và đã chuyển phôi; tiến hành ứng dụng quy trình chẩn đoán gen trước chuyển phôi trong sàng lọc hai trong số bệnh lý di truyền phổ biến ở Việt Nam là bệnh Thalassemia và bệnh Teo cơ tủy trên phôi thụ tinh trong ống nghiệm.
Nhờ những kết quả từ đề tài của GS Nguyễn Đình Tảo nhiều gia đình bệnh nhận Thalassemia và Teo cơ tủy đã sinh ra được em bé khỏe mạnh không bị bệnh như những anh chị ruột của mình.

Một gia đình mang gen bệnh đã sinh con khỏe mạnh
Đây là đề tài thực sự có ý nghĩa khoa học, đã nghiên cứu xây dựng thành công các kỹ thuật chẩn đoán gen bệnh trên phôi thụ tinh ống nghiệm lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam.
Kết quả của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà nghiên cứu khoa học về Di truyền và Phôi thai học. Đặc biệt, về mặt thực tiễn, kết quả của đề tài đã được ứng dụng tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản và có thể áp dụng tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản, trung tâm chẩn đoán bệnh di truyền trên toàn quốc.
Quan trọng và ý nghĩa hơn cả khi kết quả của đề tài đã mang lại niềm hạnh phúc cho các gia đình mang gen bệnh đã sinh ra được những em bé khỏe mạnh, giảm thiểu các trường hợp sinh con bị bệnh, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội cả về vật chất và tinh thần.

Giáo sư Nguyễn Đình Tảo nhận được nhiều giải thưởng lớn của Nhà nước, Bộ y tế...
Cho đến nay, đề tài mà GS Nguyễn Đình Tảo thực hiện đã ứng dụng trên nhiều gia đình, trong đó có trên 30 bà mẹ có thai lâm sàng, hàng chục cháu được sinh ra khỏe mạnh. Triển vọng lâu dài có thể nhân rộng các kết quả đối với nhiều bệnh tật di truyền khác. Góp phần nâng cao sức khỏe sinh sản, giảm tỷ lệ sinh con bị dị tật, nâng cao chất lượng dân số quốc gia. Với sự thành công này, các gia đình có nguy cơ sinh con bị bệnh không phải ra nước ngoài để chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi, giảm chi phí trên 50% cho các bệnh nhân làm xét nghiệm so với các trung tâm tương tự ở nước ngoài.
- Trích sách: 100 Giáo sư Việt Nam trọn đời cống hiến -
|
GENTIS vinh dự có sự đồng hành của GS.TS Nguyễn Đình Tảo trong nhiều năm qua với vai trò cố vấn chuyên môn. GENTIS cũng vinh dự được đồng hành cùng GS Tảo trong nhiều sự kiện khoa học cho các bác sĩ chuyên gia, các chương trình ý nghĩa dành cho các gia đình hiếm muộn. |
Xét nghiệm HPV không phải ai cũng biết, do đó để trả lời cho câu hỏi kết quả xét nghiệm hpv âm tính là sao thì bạn cần biết vì sao cần xét nghiệm HPV.
Xét nghiệm HPV giúp phát hiện virus HPV, loại virus có khả năng cao gây ung thư cổ tử cung ở nữ giới.
Các chủng (type) HPV được phát hiện :
Phát hiện 17 types HPV
Phát hiện 2 types nguy cơ cao 16, 18
Sàng lọc sự có mặt của 15 types khác: 6, 11, 31, 33, 35, 39, 44, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66, 68.

Các chủng (type) HPV được phát hiện :
Phát hiện sự có mặt của 40 types HPV trong đó:
Phát hiện 22 types với:
20 types nguy cơ cao: 16, 18, 26, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 53, 56, 58, 59, 66, 68, 69, 70, 73, 82; và 2 types nguy cơ thấp: 6, 11
Sàng lọc sự có mặt của 18 types khác: 30, 32, 34, 40, 42, 43, 44, 54, 55, 61, 62, 67, 74, 81, 83, 84, 87, 90.
Kết quả xét nghiệm hpv âm tính là sao? Khi nhận được kết quả xét nghiệm HPV âm tính, có thể khi đọc kết quả bạn lo lắng và không biết rằng mình có nhiễm HPV hay không. Kết quả xét nghiệm âm tính là khi bạn hoàn toàn không nhiễm virus HPV tại thời điểm xét nghiệm.
Tuy nhiên, bạn nên khám tổng quát định kỳ để đảm bảo an toàn cho sức khỏe của mình. Ngược lại với âm tính là dương tính, nếu kết quả là dương tính thì bạn đã nhiễm virus HPV.

Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng, nếu là lần đầu tiên đi khám bệnh thì có đến khoảng 60% khách hàng khi được hỏi về ý nghĩa của xét nghiệm âm tính hay dương tính đều không thể trả lời được hoặc trả lời chưa đúng.
Sau khi đã hiểu kết quả xét nghiệm hpv âm tính là sao, bạn cũng không nên chủ quan bởi nó chỉ có ý nghĩa tại thời điểm thực hiện xét nghiệm. Cách đề phòng và bảo vệ sức khỏe bản thân tốt nhất là trang bị cho mình lối sống khoa học, lành mạnh.
Còn có rất nhiều người quan niệm sai lầm về kết quả xét nghiệm âm tính hay dương tính, có nhiều người còn nhầm lẫn nghiêm trọng kết quả xét nghiệm dương tính là rất tốt và kết quả âm tính là xấu. Nhưng thực tế thì:
.jpg)
GENTIS là đơn vị tiên phong, uy tín xét nghiệm HPV
GENTIS HCM
8/24 Nguyễn Đình Khơi, Phường 4 Quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh
1800 2010 - 0888.40.2010
GENTIS HÀ NỘI
Tầng 2, Tòa nhà HCMCC, 249A Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
1800 2010 - 0988.00.2010
[content_more] => [meta_title] => Kết quả xét nghiệm hpv âm tính là sao? Có bị nhiễm HPV không? [meta_description] => Nhiều người vẫn chưa hiểu được cách đọc bảng kết quả xét nghiệm HPV. Vậy thì kết quả xét nghiệm hpv âm tính là sao? Có bị nhiễm HPV không? [meta_keyword] => xét nghiệm HPV,âm tính HPV,xét nghiệm HPV âm tính [thumbnail_alt] => [post_id] => 441 [category_id] => 15 ) )