Nam khoa
Kháng thể kháng thể kháng tinh trùng

Tinh dịch có thể gây ra phản ứng hệ thống miễn dịch trong cơ thể đàn ông hoặc phụ nữ. Các kháng thể có thể làm hỏng hoặc giết chết tinh trùng. Nếu một số lượng cao các kháng thể tinh trùng tiếp xúc với tinh trùng của một người đàn ông, thì tinh trùng đó có thể khó thụ tinh với trứng, gây ra vô sinh, hiếm muộn.

Cơ sở miễn dịch:

– Miễn dịch không đặc hiệu: Là khả năng tự bảo vệ sẵn có ngay từ lúc sinh ra, mang tính di truyền. Và vì là miễn dịch không đặc hiệu nên không đòi hỏi cơ thể phải tiếp xúc trước với “vật lạ”.

– Miễn dịch đặc hiệu: Xuất hiện khi cơ thể đã tiếp xúc với kháng nguyên và có phản ứng sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại chúng. Ở loại miễn dịch này có 2 đặc điểm cơ bản là khả năng nhận dạng và trí nhớ đặc hiệu về kháng nguyên.

Kháng thể kháng tinh trùng (AntiSperm Antibodies - ASA) chính là loại kháng thể đặc hiệu tinh trùng và nó thuộc loại miễn dịch đặc hiệu. Kháng thể kháng tinh trùng có bản chất là IgA hoặc IgG, phân bố trong các dịch cơ thể.

Sự hình thành kháng thể kháng tinh trùng

Ở nam giới hàng rào máu – tinh hoàn tạo bởi tế bào Sertoli khiến cho cơ thể không tạo miễn dịch với tinh trùng. Khi hàng rào này bị tổn thương thì sẽ xuất hiện các kháng thể bám vào tinh trùng. ASA có thể được tìm thấy trong máu và trong tinh dịch. Khoảng 4.6 – 5.7% cặp vợ chồng vô sinh bị ảnh hưởng bởi kháng thể kháng tinh trùng.

Ở phụ nữ, tinh trùng là một yếu tố “lạ” có khả năng kích thích hệ miễn dịch. Có thể tồn tại trong máu, dịch âm đạo, dịch nang trứng. Nếu chồng có ASA thì khả năng vợ có ASA sẽ cao hơn. Trong 1/3 số trường hợp, ASA của vợ chỉ phản ứng với tinh trùng của chồng.

Cơ chế ảnh hưởng của kháng thể kháng tinh trùng

Kháng thể kháng tinh trùng ảnh hưởng đến sinh sản bằng cách giảm khả năng di động hoặc tăng số lượng tinh trùng không hoạt động, tác động đến việc tinh trùng qua dịch nhầy cổ tử cung, làm biến đổi tiềm năng và phản ứng cực đầu, can thiệp vào phản ứng giữa tinh trùng và noãn. Ngoài ra, kháng thể kháng tinh trùng còn tác động đến sinh sản bằng cách làm bất động tinh trùng hoặc kết dính tinh trùng. 

Khi nồng độ ASA trong huyết tương của nam giới càng cao thì tỷ lệ vô sinh càng lớn. Vô sinh nam do ASA chiếm khoảng 1-6% số trường hợp vô sinh ở nam giới.

Ai có nguy cơ kháng thể kháng tinh trùng cao

Ở nam giới

- Tắc ống dẫn tinh mãn tính

- Viêm nhiễm đường dẫn tinh

- Giãn mạch thừng tinh

- Tinh hoàn lạc chỗ

- Ung thư tinh hoàn

- Có quan hệ đồng giới

- Vô sinh chưa rõ nguyên nhân

Ở nữ giới

- Chồng/bạn tình có ASA

Xét nghiệm kháng thể kháng tinh trùng tại GENTIS

- Khi ASA xuất hiện trong máu, nó cũng xuất hiện trong các dịch thể như dịch vòi trứng hoặc dịch âm đạo. Các kháng thể này sẽ cản trở tinh trùng liên kết với trứng.

- Mặc dù khi mới xuất hiện, kháng thể kháng tinh trùng sẽ xuất hiện tại nơi tiếp xúc với tinh trùng (tử cung) tuy nhiên một thời gian sau thì ASA được tìm thấy cả ở trong máu và dịch tử cung.

- Ở nam giới, nồng độ ASA trong máu tĩnh mạch liên quan đến sự xuất hiện của ASA trong tinh dịch. Khoảng 8.1% - 30.3% nam giới vô sinh có ASA máu tĩnh mạch dương tính.

- Xét nghiệm ASA tại GENTIS là phương pháp gián tiếp (không sử dụng tinh trùng) Sandwich Elisa.

  • Mẫu sử dụng: 2ml máu tĩnh mạch
  • Nếu không ly tâm: chuyển về phòng thì nghiệm trong 4h (nhiệt độ 20-25 độ C); Ly tâm sau khi máu đông hoàn toàn; Bảo quản nhiệt độ 2 – 8 độ C trong 7 ngày hoặc 12 tháng ở nhiệt độ -20 độ C
  • Nguyên tắc: Định lượng nồng độ ASA trong dịch. Ngưỡng 0 – 60IU/ml là nồng độ ASA ở người bình thường. (nếu kết quả từ 55-60IU/ml) thì làm lại sau 2 tuần.
Ý nghĩa của xét nghiệm kháng thể kháng tinh trùng
  • Tìm ra nguyên nhân gây vô sinh,
  • Bước đầu kiểm tra sức khỏe sinh sản ở nam và nữ,
  • Định hướng hỗ trợ sinh sản phù hợp,
  • Xét nghiệm kháng thể kháng tinh trùng là một trong những xét nghiệm đánh giá khả năng sinh sản ở cả nam và nữ,
  • Việc chọn biện pháp xử trí phù hợp có thể là tăng tỉ lệ mang thai và tỉ lệ sinh sống.
Điều trị sau khi có kết quả xét nghiệm kháng thể kháng tinh trùng

- Dùng thuốc ức chế miễn dịch. Sau khi sử dụng corticoid hoặc cyclosporine, tỉ lệ mang là 6 – 50%. Phương pháp này chưa được kiểm chứng do thiếu dữ kiện. Tuy nhiên có thể được áp dụng khi cân nhắc những tác dụng phụ của corticoid.

- IUI: Trên lý thuyết việc sử dụng IUI sẽ giúp tinh trùng vượt qua được chất nhầy âm đạo, sử dụng trong trường hợp nam giới không xuất hiện ASA, tốt hơn so với sử dụng corticoid.

- IVF: Có thể sử dụng cho trường hợp phụ nữ có ASA và nam giới không có ASA. Khi nam giới dương tính với ASA thì tỉ lệ thụ thai sẽ giảm tùy theo vị trí bám của ASA

- ICSI: Việc sử dụng ICSI có thể làm tăng tỉ lệ có thai khi chồng và vợ cùng dương tính ASA.

- Trước khi thực hiện ART: Thực hiện xử lý enzyme trước khi tiến hành các biện pháp hỗ trợ sinh sản có thể làm tăng khả năng mang thai.


ĐĂNG KÝ DỊCH VỤ TẠI GENTIS
Cảm ơn Quý khách đã tin tưởng sử dụng dịch vụ của GENTIS,
Quý khách vui lòng điền thông tin bên dưới để được hỗ trợ,
tư vấn một cách tốt nhất!

Đối tác